SAIGON MEDIA

Patriotism

Culture
Vietnamese Roots Survey . Prologue
Moonwalker
Fraternity
Roots
Patriotism
Adulthood
The One
The Contradiction
The Trio
The Five Elements
The Even Nine
The Vietnamese

Chương III : Nước

"Nước" là mầm sinh lực sống cho "vạn vật", trên địa cầu không có nước th́ từ con người đến cầm thú, cây cỏ, chí đến vi sinh khoáng vật, tất cả đều không có sự sống và không tồn tại. Không có nước th́ dù là đá tảng cũng thành cát bụi .
"Nước" là thức uống, từ ngữ Nho Việt gọi "thủy", Pháp ngữ là "eau", Anh ngữ là "water". Mỗi dân tộc đều có từ ngữ, nước, theo thường nghỉa là thể lỏng, là thức uống trong tự nhiên .
 
Từ ngữ, nước, của tiếng việt chỉ định đến ba nghĩa :  một, "nước" là nước mưa, nước sông, nước biển ... ; hai, "nước" là dáng dấp, phong độ, như: nước bóng, nước cờ, (ngựa phi) nước kiệu, ... ; ba, "Nước" danh tự là Quốc Gia, là Xứ sở,Lănh Địa, là Lănh Thổ của dân tộc Việt .
 
Tại sao ?
 
"Nước", dân tộc Việt định nghỉa là Quốc Gia bởi dụng ư muốn noi theo cái minh triết của nước, cái công dụng, tác dụng, diệu dụng của "nước" . Tổ tiên tộc Việt  dùng tính chất của "nước" làm lời truyền dẩn lối ứng xử cho người Việt đối với Gia Đ́nh, với Tổ Tiên, với Đất Nước, nhờ vào đó mà khơi dậy được "cái sống người" th́ mới ḥa nhập vào được Nguồn Cội của Dân Tộc.
 
 
1.Từ ngữ "Nước"
 
1.1 Theo từ điển và sinh học
Từ điển tiếng Nôm, từ điển Hán Việt (hay đúng hơn là Nho Việt), và theo sinh học, đă định nghĩa chữ "Nước" như sau :
  • Từ điển tiếng Nôm (Nôm là biến âm từ chữ Nam) là thổ ngữ thường nhật của dân gian, th́ nước có 3 định nghĩa như sau: (1) là nước mưa, nước sông, nước biển, hơi nước, nước uống, ... (2) là h́nh thái biểu lộ như nước bóng, ... (3) là Quốc Gia của Tộc Việt tự cổ chí kim, đất-nước, làng-nước, nhà-nước ...
  • Từ điển Hán Việt không giải thích thành 3 nghĩa như từ điển tiếng nôm, mà dùng 2 từ riêng là, thủy: nước, vật thể lỏng ; và quốc là quốc gia, lănh thổ của một dân tộc.
  • nghĩa sinh học , trong tự nhiên có 92 nguyên tố, trong 92 nguyên tố nấy th́ 16 nguyên tố được xử dụng để cấu thành hợp chất hóa học, tạo nên cơ thể sống cho vạn vật. Riêng đối với cơ thể con người th́ có 6/16 nguyên tố chiếm đến 99% trên toàn khối lượng trong cơ thể như sau : ôxy 65%, cácbon 18%, hydro 10%, nitơ 3%, vôi 2%, lân 1% = 99% . Các nguyên tố nầy không do ngẫu nhiên mà tập họp v́ mỗi nguyên tố đều mang đặc tính riêng nên chỉ liên kết với nguyên tố thích hợp bẩm sinh, làm nền tản cho sự sống. Trong cơ thể sống, phần lớn nguyên tố ôxy kết cùng nguyên tố hydro tạo thành nước. Cơ thể con người nước chiếm đến 60% (40% c̣n lại là chất sơ cứng). Thiếu nước, hay bị mất nước, cơ thể sống đi đến tự hoại, tự hủy, không tồn tại. Nước là một hợp chất có cơ năng tạo nhiều tính chất hóa học quan trọng bậc nhất. Chủ yếu là phương thức kết dính của ôxy với hydro nhờ đó làm trung gian cho các nguyên tố kết dính được với nhau, và vận chuyễn đi khắp nơi trong cơ thể, từ sinh học gọi là liên kết cộng hóa trị . Nghĩa là, 3 nguyên tử cấu thành phân tử nước H2O ta có 2 nguyên tử Hydro ở 2 đầu h́nh thành 2 mối liên kết với ôxy ở giữa tạo h́nh góc, góc nấy đo được 104,5"(xem h́nh) nhờ phương pháp nhiễu xạ bắng tia X . Nước sằn sàng hóa tan các chất hửu cơ không phải là ion, nước tự có khả năng h́nh thành liên kết v́ bản chất nó như keo loảng mang đặc tính khuyết tán nhờ vậy nó mang đi tất cả những dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể tạo thành sự sống cho sinh vật nói riêng, hay vạn vật nói chung .

 

1.2 Dụ Ngôn Nguồn Cội, trên thế giới chỉ có người Việt dùng từ ngữ nước thay cho từ quốc-gia hay xứ-sở, v́ vậy có ư kiến nhận định : Chữ nước là lời "dụ ngôn nguồn cội", mà tổ tiên tộc Việt chủ tâm lưu truyền nghĩa lư sự sống "đời" cho hậu sinh cùng với ngụ ư "hăy học tập tính chất nước cho cuộc sống tự nơi con người ḿnh" .

  • Tính chất nước theo lối thường nghiệm: trong tự nhiên hơi nước kết tựu thành mây. Mây dầy đặc gọi là mật vân được khí lạnh kết đông thành hạt mưa. Nước mưa là nước ngọt tuôn xuống mặt đất và trăi khắp. Từ cao nguyên nước mưa chảy về trũng, xuống vực sâu, về b́nh nguyên, qua khe, suối, sông, ng̣i, mang theo chất rữa, phế thải, tuôn tựu về biển. Phần nước ngọt trên mặt đất, nước thẫm thấu vào ḷng đất, tạo mạch nước ngầm ở độ sâu luồn lách chảy, ḥa tan, mang theo muối khoáng, tạp chất, rỉ ră về sông, tuôn ra biển, nước biển lại thành nước mặn. Từ mặt đất, nước từ ḷng đất, khe, suối, sông, biển, nhờ sức nóng của mặt trời, bốc hơi lan tỏa ẩm độ điều ḥa khí quyển cho sự sống của muôn loài . Biển cả mênh mông, nưóc chiếm hết 3/5 diện tích của địa cầu, nước bốc hơi bay vút vào bấu trời, để lại tạp chất và muối khoáng lại biển cả . Cứ thế thường hằng luân lưu măi  không thay đổi với thời gian, sinh sinh hóa hóa nối tiếp sống cho vạn vật . Tự thủy chí chung, nước làm mầm cho sự sống, ban phát cùng khắp. "Nước không bao giờ khiếm thiếu cơ năng, không bao giờ đổi vời tính chất " . Dựa vào diệu dụng của nước tổ tiên tộc Việt làm lời dụ ngôn truyền lại cho con cháu hậu thế ḍ t́m về Cội Nguồn Dân Tộc .
  • Có ư kiến lập luận khác : Vào khoảng 3000 năm trước công nguyên, là thời hải xâm, trầm thủy . Vùng hạ lưu của những con sông lớn tại Viễn Đông  như sông Hoàng Hà với dẫn tích "Vua Vũ trị thủy", sông Dương tử với điễn tích Động Đ́nh Hồ qua việc vùng Ngũ Hố trầm tích, sông Cửu Long với truyền thuyết Đại Hồng Thủy . Sông Hồng với truyện Sơn Tinh Thủy Tinh . Tất cả đều là chứng cứ lịch sử của thời cổ đại , một thời của vùng đầm lầy ngập nước. Vào thời nầy, những vùng trung du ven đầm lầy, dân Việt gọi là vùng đất, ở vùng ngập lụt triền miên gọi là vùng nước, từ đó danh từ "Đất Nước" của vùng ven có liên ranh với vùng nước trầm tích rộng lớn . theo thời gian dần về sau, từ ngữ "Đất Nước" rút gọn lại thành "Nước" . Lập luận dẫn chứng : Dân cư sinh sống bằng nghề thủy lợi bắt cá, hay nghề nông trồng lúa nước, nhân số gia đ́nh sinh sản đông đúc tập thành bào tộc, phát sinh từ ngữ Làng Xă là cộng đồng xóm làng sinh sống trên đất. Cộng đồng bào tộc sinh cơ lập nghiệp trên vùng nước ngập th́ gọi phân biệt là Làng Nước . Thời nay 2 ư nghỉa đă chuyễn thành : làng là đơn vị dân cư, và nước là đơn vị lănh thổ sinh sống . Bởi có tranh nhau vùng đất hay vùng nước để sinh sống, nên cần có liên minh ǵn giữ, t́nh thế tranh nhau bắt buộc phải trưỡng thành tổ chức bộ lạc để phân chia ranh vùng. Các từ ngữ : Quốc, Bang, Xứ, Vùng, Miền, Mạn, được dùng để chỉ định ranh giới, lănh thổ cư ngụ và sinh hoạt của từng bào tộc nối tiếp nhau từ "Đất Nước". Cái riêng của chúng dân là Nhà, cái riêng của cộng đồng là Nhà Làng(nay gọi là Đ́nh Làng), cái chung của bộ lạc là Đất Nước, dần về thành từ kép Nhà-Nước . Đến nay danh từ Nước chỉ định là Quốc Gia, là lănh thổ của một dân tộc, và danh từ Nhà-Nước là bộ phận hành chính của đất nước đó .
  • theo Cổ Học : các nhà cổ học căn cứ theo Kinh Dịch là khoa "Tự Nhiên Học" của văn hóa thời cổ, con người vào thời đó tuy hăy c̣n sơ khai nhưng cũng đă biết là, "nước từ trên trời rơi xuống", "nước là của thiên nhiên", "nước ban sự sống" . Cổ sử chép , vào khoảng 7000 năm về trước, Phục Hy, Nữ Oa, phát kiến khải minh "Âm Dương Dịch Lư" . Thời nay công nhận là đấy là thuyết tự nhiên, là khoa "Minh nhiên học" của thời cổ, xưa cũng như nay gọi là "Âm Dương Dịch Lư" là Kinh Dịch (xem chi tiết nơi chương V: Thái Nhất) .

 ...   c̣n tiếp   ...

Văn Hóa | Chính Trị | Quân Sự | Kinh Tế | Khoa Học
Exclusive publication for
SAIGONMEDIA.NET & SAIGONMEDIA.ORG
Online in Japan since 2001 and US since 2005.
© Copyright 2001 SaigonMedia. All rights reserved. The materials on this website are not to be sold, traded, or given away. Any copying, manipulation, publishing, or other transfer of these materials, is strictly prohibited.